Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Lương Hùng)
  • (Trương Hoàng Anh)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Quảng Ninh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    ngu van 8

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hương
    Ngày gửi: 17h:10' 08-05-2024
    Dung lượng: 2.4 MB
    Số lượt tải: 79
    Số lượt thích: 0 người
    Ôn tập bài 8
    NHÀ VĂN VÀ TRANG VIẾT

    Thảo luận nhanh theo
    cặp đôi để hoàn thành
    các phiếu học tập

    Phiếu học tập
    số 01

    Phiếu học tập
    số 02

    Yếu tố
    Luận đề
    Luận điểm
    Lí lẽ
    Dẫn chứng

    Yêu cầu
    ………………
    ………………
    ………………
    ………………

    Tên văn bản Đặc sắc nội Đặc sắc
    Đọc hiểu
    dung
    nghệ thuật

    ÔN TẬP PHẦN 1
    ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
    NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

    PHẦN I
    ÔN TẬP LÝ THUYẾT

    1. Tìm hiểu chung về văn bản nghị luận văn học
    Khái niệm
    Đề tài

    Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản trong đó
    người viết trình bày quan điểm, đánh giá về một
    vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác giả, tác phẩm,
    thể loại,...)
    Bàn luận về một tác giả, tác phẩm, thể loại, giai
    đoạn, trào lưu, hiện tượng văn học,...)

    Phương thức biểu
    Nghị luận
    đạt chính
    Phương thức biểu
    đạt hỗ trợ làm tăng Biểu cảm; tự sự
    tính thuyết phục

    1. Tìm hiểu chung về văn bản nghị luận văn học

    Các yếu
    tố chính
    của văn
    bản nghị
    luận
    văn học

    - Là vấn đề chính (về tác giả, tác phẩm, thể
    loại,...) được tập trung bàn luận trong văn bản;
    Luận đề - Thường được thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu
    hoặc suy luận từ toàn bộ VB.
    - Là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể
    hóa luận đề, dựa trên đặc điểm của đối tượng
    được bàn luận.
    Luận điểm - Thường được trình bày bằng một câu khái quát
    và được làm sáng tỏ bởi lí lẽ và dẫn chứng.

    1. Tìm hiểu chung về văn bản nghị luận văn học
    - Nảy sinh nhờ suy luận logic; là những diễn giải
    của người viết về đặc điểm của một tác phẩm, tác
    Lí lẽ giả, thể loại,...
    - Được dùng để giải thích và triển khai luận
    điểm, giúp luận điểm trở nên sáng tỏ.

    Các yếu
    tố chính
    của văn Luận
    - Là những câu văn, đoạn thơ, dòng thơ, chi tiết,
    bản nghị cứ
    hình ảnh,.. được dẫn từ tác phẩm văn học hoặc
    luận
    những tài liệu, trích dẫn liên quan nhằm xác nhận
    Bằng
    văn học
    chứng tính đúng đắn, hợp lý của lí lẽ.
    - Xác nhận tính đúng đắn, hợp lý của lí lẽ, làm
    sáng tỏ luận điểm.

    1. Tìm hiểu chung về văn bản nghị luận văn học

    - Phải xác lập được luận đề rõ ràng.
    - Triển khai, tổ chức hợp lí bằng hệ thống luận điểm tường
    minh với lí lẽ xác đáng và bằng chứng thuyết phục

    Yêu
    cầu
    chung

    2. Người đọc và cách tiếp nhận riêng đối với một VBVH

     Tác giả là chủ thể sáng tạo VBVH; còn người đoc là chủ thể tiếp nhận
    VBVH.
     Quá trình tiếp nhận VBVH là quá trình đọc, tưởng tượng và cảm nhận
    giá trị nội dung và nghệ thuật của VBVH. Quá trình này không thể tách
    rời đặc điểm của văn bản (thể loại, đề tài, chủ đề, bố cục, biện pháp tu
    từ, ngôn ngữ, ...).
     Mỗi người sẽ có cách tiếp nhận riêng đối với một VBVH, phụ thuộc vào
    hoàn cảnh tiếp nhận, vốn sống, vốn hiểu biết, sự trải nghiệm của người
    đọc,...
     Ý nghĩa, giá trị của tác phẩm đối với mỗi người đọc, mỗi thời đại có thể
    được sáng tạo, mở rộng và trở nên phong phú hơn.

    2. Người đọc và cách tiếp nhận riêng đối với một VBVH

    3. Kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận văn học
    Nhận biết:
    - Nhận biết được luận đề chính trong văn bản.
    - Nhận biết được luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản.
    - Nhận biết được cách sắp xếp, trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
    của tác giả.
    - Nhận biết được các yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận.

    3. Kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận văn học
    Thông hiểu:
    - Xác định được được nội dung bao quát, tư tưởng chủ đạo của văn bản.
    - Xác định và lí giải được mục đích, quan điểm của người viết.
    - Lí giải được mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng;
    vai trò của luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện nội dung
    văn bản.
    - Phân tích được vai trò của các yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.

    3. Kĩ năng đọc hiểu văn bản nghị luận văn học
    Vận dụng:
    - Rút ra được bài học cho bản thân từ nội dung văn bản.
    - Thể hiện được thái độ đồng tình/ không đồng tình/ đồng tình một phần
    với quan điểm của tác giả.
    Vận dụng cao:
    - Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử - văn hóa để lí giải ý
    nghĩa, thông điệp của văn bản.
    - Đánh giá được ý nghĩa, tác động của văn bản đối với quan niệm sống
    của bản thân.

    Phần II

    THỰC HÀNH ĐỌC
    HIỂU VĂN BẢN NGHỊ
    LUẬN VĂN HỌC

    ĐỀ 1: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi bên dưới
    VỀ BÀI THƠ ÔNG ĐỒ CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN

    [...]
    Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà
    cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết
    thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ
    không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể,
    hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm.
    Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy, cũng
    chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chân của một thời tàn. Sự
    đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên; mực với mực, giấy với giấy, người
    với người càng cho ta thấy cái thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.

    Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trắng của đoạn thơ, trước khi
    vào bốn dòng kết:
    Năm nay đào lại nở,
    Không thấy ông đổ xưa.
    Những người muôn năm cũ
    Hồn ở đâu bây giờ?
    Hãy trở lại với dòng thơ đầu bài “Mỗi năm hoa đào nở" để thấy quy luật
    cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy", nhưng năm nay
    không còn kiên nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa". Ông đã cố bám lấy
    xã hội hiện đại, những người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức của ông, đã
    thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ quay nhìn
    lại, mới biết ông bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng
    của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của
    chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng

    quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa
    tưởng niệm, hay ân hận sám hối? Hai dòng thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta
    đọc được ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của
    cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp, dòng thơ
    này rất lạ, nhưng không thấy cộm: “Những người muôn năm cũ". “Muôn
    năm" thật ra chỉ vài ba năm, nhưng nói “muôn năm" mới đúng, thời ông đồ đã
    xa lắc rồi, đã lẫn vào những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử, chữ
    “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của dòng dưới càng
    bâng khuâng, luyến nhớ. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như
    một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
    (Theo VŨ QUẦN PHƯƠNG, Tác phẩm văn học 1930 – 1975,  tập 1,
    NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990)

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 1. Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
    A. Kể chuyện của ông đồ cho chữ đầu xuân
    B. Miêu tả số phận của những ông đồ thời nay
    C. Phân tích, đánh giá bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên)
    D. Thuyết minh về bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên)
    Câu 2. Theo em, mục đích chính của người viết văn bản trên là gì?
    A. Chỉ ra cái hay của bài thơ Ông đồ.
    B. Ca ngợi những người viết chữ Nho.
    C. Thể hiện nỗi luyến tiếc của nhà thơ Vũ Đình Liên đối với những giá trị
    văn hóa một thời.
    D. Nêu lên tình cảnh buồn thảm của ông đồ.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 3. Câu văn nào có bằng chứng được người viết dẫn ra từ bài thơ?
    A. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất
    là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay.
    B. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy", nhưng năm nay không còn kiên
    nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa".
    C. Như vậy, cũng chỉ tám dòng, bốn mươi chữ đủ nói hết những bước chốt
    của một thời tàn.
    D. Dòng thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm
    thương, nuối tiếc khôn nguôi.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 4. Tác giả phân tích nghệ thuật dùng từ của nhà thơ ở câu nào?
    A. Chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của dòng
    dưới càng bâng khuâng, luyến nhở.
    B. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên; mực với mực, giấy với
    giấy, người với người càng cho ta thấy cái thảng thốt, xót xa của sự biến
    thiên.
    C. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi.
    D. Về ngữ pháp, dòng thơ này rất lạ, nhưng không thấy cộm: "Những người
    muôn năm cũ".

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 5. Câu văn “Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn,
    vắng” sử dụng biện pháp tu từ nào?
    A. Nhân hóa
    B. So sánh
    C. Phép điệp
    D. Liệt kê
    Câu 6. Câu nào nêu nhận xét của người viết về tài năng nghệ thuật của nhà
    thơ Vũ Đình Liên?
    A. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người mà là bóng dáng của
    cả một thời đại.
    B. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy”, nhưng năm nay không còn kiên
    nhẫn được nữa .
    C. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà
    cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ.
    D. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 7. Ý nào nêu đúng nhất cách thức nêu bằng chứng của người viết trong
    văn bản trên?
    A. Trích dẫn nguyên văn bài thơ “Ông đồ”.
    B. Trích dẫn các lời đánh giá liên quan tới bài thơ “Ông đồ”.
    C. Dẫn gián tiếp ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu khác.
    D. Trích dẫn nguyên văn các câu thơ, các cụm từ, từ, hình ảnh thơ.
    Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
    Câu 8. Nhận xét về cách phân tích bằng chứng trong đoạn trích trên.
    Câu 9. Người viết thể hiện rõ tình cảm, cảm xúc gì của mình về hình ảnh ông
    đồ trong bài thơ của Vũ Đình Liên?
    Câu 10. Viết đoạn văn ngắn (5 – 7 câu) để trả lời câu hỏi: Cần làm gì để giữ
    gìn những giá trị văn hóa truyền thống?

    Gợi ý trả lời

    Câu
    Đáp án gợi ý
    1
    C. Phân tích, đánh giá bài thơ Ông đồ (Vũ Đình Liên).
    2
    A. Chỉ ra cái hay của bài thơ Ông đồ.
    3
    B. Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy", nhưng năm nay không còn
    kiên nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa".
    4
    A. Chữ “muôn năm cũ" của dòng trên dội xuống chữ “bây giờ" của
    dòng dưới càng bâng khuâng, luyến nhở.
    5
    D. Liệt kê
    6
    C. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng
    ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ.
    7
    D. Trích dẫn nguyên văn các câu thơ, các cụm từ, từ, hình ảnh thơ.

    Câu
    Đáp án
    8 *Cách phân tích bằng chứng trong đoạn trích:
    - Phân tích cụ thể, chi tiết: Với mỗi bằng chứng (câu thơ/ hình ảnh/ từ ngữ),
    người viết đều phân tích cụ thể, chi tiết, rõ ràng. Ví dụ người viết đã làm rõ hình
    ảnh ông đồ ở khổ thơ trước khổ kết: “Ông đồ đã kiên nhẫn “vẫn ngồi đấy",
    nhưng năm nay không còn kiên nhẫn được nữa: “Không thấy ông đồ xưa". Ông
    đã cố bám lấy xã hội hiện đại, những người hiện đại chúng ta đã thấy sự cố sức
    của ông, đã thấy ông chới với, nhưng chúng ta đã không làm gì, để đến bây giờ
    quay nhìn lại, mới biết ông bị buông rơi tự bao giờ. Bóng dáng ông đâu phải
    bóng dáng của một người mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức
    của chính tâm hồn chúng ta.”
    - Phân tích bám sát ngôn ngữ bài thơ: Ví dụ khi phân tích câu thơ ““Những
    người muôn năm cũ", người viết đã cắt nghĩa rất rõ chữ “muôn năm cũ”, đối
    sánh với chữ “bây giờ” ở câu thơ sau, để từ đó rút ra ý nghĩa biểu đạt của từ ngữ.
    => Nhận xét: cách phân tích bằng chứng trong đoạn trích rất thuyết phục, sắc
    bén.

    Câu
    Đáp án gợi ý
    9 - Người viết bày tỏ niềm xót xa trước tình cảnh đáng thương của ông đồ trong
    bài thơ của Vũ Đình Liên, từ đó bày tỏ niềm cảm thương chân thành trước một
    lớp người tài hoa đã từng vang bóng một thời.
    10 *Hình thức: đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi
    chính tả, ngữ pháp, hành văn trong sáng, cảm xúc chân thành.
    *Nội dung:  Những việc cần làm để giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống:
    - Mỗi cá nhân, cần tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, luôn có ý
    thức quảng bá những giá trị đó với bạn bè năm châu.
    - Học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu
    thông qua những việc làm, hành động thiết thực.
    - Tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước
    nhà.
    - Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến
    cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.
    ...

    ĐỀ 2: Đọc văn bản sau:
    Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi
    chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hòa bình. Phlô-be
    cân nhắc chữ trên cân tiểu ly như một thầy lang bốc những vị thuốc công
    phạt(1) có thể chết người.
    Nhưng các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên
    hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những
    nhà thơ thiên phú..
    Trời cho thì trời lại lấy đi. Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.
    Tôi rất biết những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một
    thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ
    không phải may rủi đơn thuần.
    Làm thơ không phải đánh quả(2). Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.

    Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc
    học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hóa.
    Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.
    Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà
    thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
    Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.
    Mà trời tuy là kho vô tận, thường khi cũng bủn xỉn lắm. Hình như tất cả
    những người “cho” đều bủn xỉn. Và hoàn toàn sống dựa vào viện trợ, dầu(4) là
    hào phóng, vô tư nhất nhiều khi còn khổ quá đi ăn mày.
    Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai
    sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.
    (Trích Chữ bầu lên nhà thơ, Lê Đạt, Đối thoại với đời và thơ,
    NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr. 87)

    Chú thích:
    (1)
    Vị thuốc công phạt: vị thuốc có tác dụng mạnh, có thể cắt cơn bệnh lập tức
    nhưng cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
    (2)
    Đánh quả: lợi dụng thời cơ để tiến hành những vụ làm ăn có khả năng đem
    lại những món lợi lớn.
    (3)
    Dầu: cũng như dù, dùng để kết nối.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
    A. Tự sự
    C. Thuyết minh
    B. Biểu cảm
    D. Nghị luận
    Câu 2. Để chứng minh cho công phu người viết tiểu thuyết, Lê Đạt đã đưa ra
    dẫn chứng nào?
    A. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh
    và hòa bình.
    B. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu ly như một thầy lang bốc những vị
    thuốc công phạt có thể chết người.
    C. Công phu của Tôn-xtôi và Phlô-be khi viết tiểu thuyết.
    D. Câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí .

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 3. “Nhà thơ thiên phú” được hiểu là gì?
    A. Nhà thơ có tài năng bẩm sinh (được trời cho).
    B. Nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng.
    C. Nhà thơ mà tài năng do rèn luyện vất vả mà có.
    D. Nhà thơ tài năng sớm bộc lộ nhưng cũng dễ lụi tàn.
    Câu 4. Trong đoạn trích, người viết đã tranh luận với quan niệm phổ biến
    nào?
    A. Thơ gắn liền với cảm xúc bột phát, “bốc đồng”, làm thơ không cần cố
    gắng.
    B. Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, không cần phải lao động
    lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
    C. Quan niệm vứt thánh bỏ trí của Trang Tử.
    D. Cả A và B

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 5. Tác giả cho rằng cái kì ngộ của những câu thơ hay là kết quả của điều gì?
    A. là kết quả của những phút “bốc đồng”.
    B. là kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng
    quỷ thần.
    C. là do may rủi đơn thuần, do “trúng số độc đắc” trong làm thơ.
    D. là kết quả của những giây phút thăng hoa cảm xúc trong sáng tạo nghệ thuật.
    Câu 6. Câu văn “Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền
    trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” sử dụng biện pháp tu từ
    nào?
    A. Nhân hóa
    C. Ẩn dụ
    B. So sánh
    D. Nói quá

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 7. Trong câu văn “Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực
    điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”, người viết muốn nói
    đến đối tượng nhà thơ nào?
    A. những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.
    B. những nhà thơ thần đồng.
    C. những nhà thơ thiên phú.
    D. những nhà thơ nghiêm túc, cần mẫn trong sáng tạo nghệ thuật.
    Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
    Câu 8. “Vứt thánh bỏ trí được lắm. Nhưng trước khi vứt, khi bỏ phải có đã chứ.”
    Theo anh/chị, “có” ở đây là có điều gì?
    Câu 9. Anh/Chị có đồng tình với suy nghĩ của Lê Đạt: “Tôi không mê những nhà
    thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên
    cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.” Không? Tại sao?
    Câu 10. Đoạn trích trên giúp em hiểu thêm điều gì về hoạt động sáng tạo thơ ca?

    Câu
    1
    2
    3
    4
    5
    6
    7

    Gợi ý trả lời

    Đáp án gợi ý

    D. Nghị luận
    C. Công phu của Tôn-xtôi và Phlô-be khi viết tiểu thuyết.
    A. Nhà thơ có tài năng bẩm sinh (được trời cho).
    D. Cả A và B
    B. là kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối,
    làm động lòng quỷ thần.
    C. Ẩn dụ
    D. những nhà thơ nghiêm túc, cần mẫn trong sáng tạo nghệ thuật.

    Gợi ý trả lời
    Câu

    Đáp án gợi ý

    8 HS bày tỏ chia sẻ cá nhân.
    Chằng hạn: “có” ở đây là: Có tài năng, đồng thời có cả sự nỗ lực kiên trì,
    có sự lao động nghệ thuật một cách miệt mài, bền bỉ.
    9 - Đồng tình, vì: Tất cả mọi thành quả đều phải bắt nguồn từ sự lao động
    miệt mài thì thành quả đó mới đáng trân trọng.
    - Đồng tình với tác giả nhưng vẫn trân trọng những tài năng thiên bẩm,
    vì: Cái tài nào cũng đáng trọng, dù là trời cho hay do tự thân nỗ lực cố
    gắng, nếu con người có được cả hai điều đó thì càng đáng trân quý.

    Gợi ý trả lời
    Câu
    Đáp án gợi ý
    10 HS bày tỏ suy nghĩ, ví dụ:
    - Hoạt động sáng tạo thơ ca cũng là một hoạt động lao động chân chính
    như bao công việc khác.
    - Để tạo nên một bài thơ, người nghệ sĩ không thể thảnh thơi với những
    khoảnh khắc đến bất chợt mà cũng phải lầm lũi, vất vả để trăn trở tư duy,
    suy nghĩ, lựa chọn, gắng sức trên “cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy
    từng hạt chữ”.
    - Hoạt động sáng tạo thơ ca là một hành trình khó khăn, gian khổ và
    người nghệ sĩ phải tạo được cho mình những lối đi riêng, khẳng định
    phong cách nghệ thuật của bản thân. 
    ...

    Đề 3: Đọc văn bản sau:
    LỜI TỰA TẬP "THƠ THƠ" CỦA XUÂN DIỆU
    (Thế Lữ)
    Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê, tóc như mây vương
    trên đài trán ngây thơ, mắt như bao luyến mọi người, và miệng cười mở
    rộng như một tấm lòng sẵn sàng ân ái. Chàng đi trên đường thơ, hái những
    bông hoa gặp dưới bước chân, những hương sắc nảy ra bởi ánh sáng của
    lòng chàng. “Thơ Thơ” là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian.Và từ
    đây, chúng ta đã có Xuân Diệu.
    Loài người hãy hiểu con người ấy!
    Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ
    của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian; ông đã không trốn
    tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời, và lời nguyện ước của ông có bao
    nhiêu sức mạnh:

    Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,
    Làm dây da, quấn quýt cả mình xuân,
    Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần,
    Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
    Là một người sinh ra để sống, Xuân Diệu rất sợ chết, sợ lặng im và bóng
    tối, hai hình ảnh của hư vô. Mục đích của đời người có phải là hạnh phúc đâu!
    Mục đích chính là sự sống. Mà còn gì làm sự sống đầy đủ hơn Xuân và Tình?
    Cho nên Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả
    mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong bầu tim
    mây trời thanh sắc. Ông hăm hở đi tìm những nơi sự sống dồi dào tụ lại. Khi
    ông khao khát vô biên, tuyệt đích, chẳng phải ông muốn lên đến đỉnh cao nhất
    của sự sống đó sao? Ham yêu, biết yêu, Xuân Diệu muốn tận hưởng tình yêu,
    vì ông thấy tình yêu mới gồm được bao nhiêu ý nghĩa.

    Nhưng Xuân không dài dặc, Tình có bền đâu! Xuân với Tình cũng vô định
    như sự thực không bền, và lại còn mong manh hơn cuộc đời chảy trôi. Bởi
    thế, Xuân Diệu vội vàng, bao giờ cũng lo âu thắc mắc. Luôn luôn tận tâm,
    siêng năng mà sống, ông mau mau đem hết cả tâm hồn mà tặng cho đời, và
    ông cũng đòi hết cả tâm hồn của người yêu dấu, của trời đất, của mọi sự vật
    trên trần gian.
    Ta thấy cả nỗi cuống quýt sảng sốt của thi nhân giơ tay với lấy giây phút
    qua, bám lấy bầu xuân hồng, và rền rĩ thở than với người yêu dấu. Người tình
    nhân ấy có những câu não ruột thấm thía, khiến nụ cười ta rung ở miệng cùng
    nước mắt ứa dưới hàng mi…
    Sở dĩ Xuân Diệu tham lam tình yêu, chất chứa vào lòng không chán, không
    đủ, không nguôi, là bởi thi sĩ rất sợ cô độc. Ông muốn biến ra nhiều thân, hoá
    thành muôn ức, triệu, vì ông thấy người ta đều chỉ trơ trọi một mình. Ông tìm
    gần gụi vì ông quá riêng tây, ông thấy nỗi mênh mông của tâm hồn nên ông
    muốn thành một cây kim để hút vào mình thiên hạ.

    Thơ Xuân Diệu do đấy mà buồn tịch mịch ngay trong những điều ấm nóng
    reo vui. Lạnh lùng ám khắp mọi nơi, “xa vắng gồm tự muôn đời”, ở đâu cũng
    là nỗi nhớ nhung, thương tiếc. Lòng thi sĩ thấy rõ điều trái ngược: nồng nàn
    bởi vì thê lương, khăng khít nhưng vẫn hững hờ, bao nhiêu éo le của cảnh đời
    mà Xuân Diệu yêu tới đau khổ. Thơ Xuân Diệu là hơi thở thầm kín, giấu
    giếm, trong đó ẩn sự huyền bí ghê rợn của một đêm trăng, sự não nùng bao la
    của một buổi chiều, và tất cả tâm hồn khó hiểu của người, của cảnh.
    Rồi càng khó hiểu, người thi sĩ càng cố tìm. Ông dò xét cái “thế giới bên
    trong”, lượm lặt từng sợi tơ mềm yếu, từng mảnh nhớ thương, từng vụn sầu
    tủi. Ông nghiệm thấy rằng:
    Phải can đảm mới bền gan yếu đuối,
    Phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ,
    nên chịu mất một ít kiêu căng để thêm được rất nhiều sự sống. Và ông
    đã du ngoạn trong xứ yêu mến, nói cho ta hay những đường lối ẩn khúc quanh
    co.

    Ông còn nghe thấu sự mơ hồ, như đã thạo dò la những điều tinh tế. Con
    người phức tạp cũng đơn sơ, con người thiết thực cũng mơ mộng: ông có một
    trái tim, nhưng ông còn có một linh hồn. Ông tỏ ra đã từng vào trong thế giới
    của mọi sự u huyền: hương trầm, âm nhạc, thời khắc, khói sương… tất cả đều
    nói cho ông những lời chi ly và những dây liên lạc.
    Với những câu thơ ít lời nhiều ý, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh
    hoa, Xuân Diệu lại là một tay thợ biết làm ta ngạc nhiên vì nghệ thuật dẻo
    dang và cần mẫn. Nhưng ở trên nhà nghệ thuật, ở trên nhà thi sĩ, ta thấy lòng
    ta mến yêu một linh hồn mở rộng, một tấm lòng chào đón, một con người ân
    ái đa tình. Người ấy chắc không cần phải quá đợi chờ, van xin, vì lẽ nào cõi
    đời, còn mãi mãi lạnh lùng vô tri, khi đã nghe tiếng đàn si mê của Xuân Diệu?
    (Tuyển tập Thế Lữ, NXB Văn học, HN 1984)

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 1. Vấn đề đươc người viết bàn luận ở đoạn trích trên là gì?
    A. Tiểu sử cuộc đời Xuân Diệu.
    B. Vẻ đẹp tâm hồn và thơ Xuân Diệu qua tập “Thơ Thơ”.
    C. Vẻ đẹp tâm hồn Xuân Diệu.
    D. Những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của thơ Xuân Diệu.
    Câu 2. Theo tác giả, để có thể sống trọn vẹn và đầy đủ nhất, Xuân Diệu đã
    làm gì?
    A. Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân.
    B. Xuân Diệu hái những bông hoa gặp dưới bước chân.
    C. Xuân Diệu du ngoạn trong thế giới mộng tưởng.
    D. Xuân Diệu dò xét cái “thế giới tâm linh”.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 3. Theo người viết, nguồn gốc của những vội vàng, lo âu, thắc mắc,
    luôn tận tâm, siêng năng mà sống trong thơ Xuân Diệu là gì?
    A. Xuân đẹp nhất, Tình đáng sống nhất, Xuân với Tình mời gọi con người.
    B. Con người chỉ có thi hứng nhất thời.
    C. Xuân không dài dặc, Tình không bền lâu, Xuân với Tình vô định như và
    mong manh hơn cuộc đời chảy trôi.
    D. Người đời sẽ dần quên Xuân Diệu và quên cả những vần thơ của ông.

    Câu 4. Trong văn bản trên, tác giả đã trích dẫn những câu thơ nào của Xuân Diệu?
    A. - Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,
    Làm dây da, quấn quýt cả mình xuân,
    Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần,
    Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
    - Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ
    Mau lên em, tình non sắp già rồi

    C. - Ta muốn ôm
    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
    Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
    - Phải can đảm mới bền gan yếu đuối,
    Phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ

    B. - Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn,
    Làm dây da, quấn quýt cả mình xuân,
    Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần,
    Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
    - Phải can đảm mới bền gan yếu đuối,
    Phải khôn ngoan mới dư trí dại khờ

     
    D. - Của ong bướm này đây tuần tháng mật
    Này đây hoa của đồng nội xanh rì
    Này đây lá của cành tơ phơ phất
    Của yến anh này đây khúc tình si
    - Đây mùa thu tới mùa thu tới
    Với áo mơ phai dệt lá vàng

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 5. Việc trích dẫn những vần thơ Xuân Diệu trong văn bản có tác dụng gì?
    A. Tăng tính hấp dẫn, gợi hình, gợi cảm cho ý văn.
    B. Giúp ta thấu hiểu thế giới tâm tư phong phú của Thế Lữ.
    C. Tạo ra sự đồng điệu giữa Thế Lữ và Xuân Diệu.
    D. Tăng tính thuyết phục cho lập luận và nhấn mạnh hồn thơ cuồng nhiệt say mê
    của Xuân Diệu.
    Câu 6. Câu văn “Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”
    nhằm diễn đạt điều gì?
    A. Xây lâu đài thơ bao giờ cũng cần chân móng vững vàng.
    B. Thơ Xuân Diệu bắt rễ từ đời sống, từ tình yêu dành cho cuộc sống nơi trần gian.
    C. Thơ Xuân Diệu nhiều màu sắc như những căn phòng khác nhau trong một tòa
    lâu đài.
    D. Con người Xuân Diệu luôn dành tình yêu cho cuộc sống trần gian.

    Lựa chọn đáp án đúng:
    Câu 7. Vẻ đẹp nào của thơ Xuân Diệu được bộc lộ khi thơ ông có thể “khiến
    nụ cười ta rung ở miệng cùng nước mắt ứa dưới hàng mi…”?
    A. Đánh thức những xúc cảm vốn chưa từng có trong lòng độc giả.
    B. Tạo nên những mâu thuẫn trong tâm tư người đọc.
    C. Khơi gợi lên những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn độc giả.
    D. Có thể vẽ lên những bức tranh kì lạ về tâm hồn con người.
    Câu 8. Tại sao tác giả Thế Lữ cho rằng: "Thơ Thơ" là cụm đầu mùa chàng
    tặng cho nhân gian. Và từ đây, chúng ta đã có Xuân Diệu?
    A. Những vần thơ đã hồi sinh Xuân Diệu.
    B. Xuân Diệu thổi sự sống cho thơ.
    C. Thơ Xuân Diệu và người Xuân Diệu hòa làm một.
    D. Thơ ca mang theo số phận của nhà thơ.

    Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
    Câu 9. Xác định hệ thống luận điểm được triển khai trong bài viết.
    Câu 10. Nhận xét về nghệ thuật nghị luận của văn bản (cách mở đầu, dẫn dắt
    vấn đề, tổ chức luận điểm, ngôn ngữ, giọng văn nghị luận,...).

    Câu
    Đáp án gợi ý
    9 Hệ thống luận điểm được triển khai trong bài viết:
    Luận điểm 1: Giới thiệu Xuân Diệu và tập “Thơ Thơ”: Xuân Diệu có
    phong cách độc đáo và đã tạo ra “Thơ Thơ” theo cách của riêng mình.
    Luận điểm 2: Bàn về “Thơ thơ”:
    - Vẻ đẹp tâm hồn Xuân Diệu qua tập thơ:
    + Gắn bó với cuộc sống nhân gian, hồn thơ Xuân Diệu bắt rễ sâu từ
    mảnh đất nhân gian;
    + Lòng yêu sống tới cuồng nhiệt của Xuân Diệu: Say đắm với tình yêu
    và mùa xuân; cuống quýt, vội vàng vì thấy thời gian qua mau, xuân tình
    ngắn ngủi.
    - “Thơ thơ” mang vẻ đẹp của sự hàm súc.
    Luận điểm 3: Khẳng định vẻ đẹp thơ Xuân Diệu đến từ chính trái tim thi
    sĩ và sẽ tìm thấy sự đồng điệu từ độc giả.

    Câu
    Đáp án gợi ý
    10 Nhận xét về nghệ thuật nghị luận của văn bản:
    - Cách mở đầu, dẫn dắt vấn đề tự nhiên, hợp lí.
    - Hệ thống luận điểm chặt chẽ ; lí lẽ sắc bén; dẫn chứng thuyết phục.
    - Ngôn ngữ văn bản nghị luận giàu hình ảnh, chọn lọc từ ngữ tinh tế, có nhiều
    cảm nhận thú vị, cách diễn đạt độc đáo.
    - Sử dụng yếu tố biểu cảm (yếu tố bổ trợ) giúp VB giàu cảm xúc, không khô
    khan.
    (Ví dụ: Loài người hãy hiểu con người ấy!; Mục đích của đời người có phải là
    hạnh phúc đâu!; Nhưng ở trên nhà nghệ thuật, ở trên nhà thi sĩ, ta thấy lòng ta
    mến yêu một linh hồn mở rộng [...] khi đã nghe tiếng đàn si mê của Xuân Diệu?)
    - Giọng văn linh hoạt, khi thì giảng giải, cắt nghĩa tỉ mỉ, lúc lại tuởng tượng, liên
    tưởng bay bổng, có khi mang tính đối thoại, tranh biện, có khi lại say sưa, chân
    thành, tràn đầy tình cảm và niềm ngưỡng mộ đối với thơ Xuân Diệu và con
    người thi sĩ.

    Đề 4: Đọc văn bản sau:
    “Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng và cuộc đời
    bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ mấy nghìn năm đã ăn sâu
    vào tâm trí chúng ta. Nhưng khôn hay dại - chúng ta ngày một lìa xa nền nếp
    cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh. Dầu sao, những tính tình tư
    tưởng ta hấp thụ ở học đường cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời
    mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta người nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền
    lành ít có dịp xuất đầu lộ diện. Đến nỗi có lúc ta tưởng chàng đã chết rồi. Ở
    Nguyễn Bính thì không thế. Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang
    nhiên sống như thường. Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản
    chất nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn
    ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối là hoàn toàn cảnh tự
    nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tình cảm căn
    bản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc người đã làm những
     
    Gửi ý kiến