Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Lương Hùng)
  • (Trương Hoàng Anh)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Quảng Ninh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Ngữ văn 8

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Minh Thanh
    Ngày gửi: 18h:11' 30-10-2023
    Dung lượng: 4.7 MB
    Số lượt tải: 495
    Số lượt thích: 0 người
    Tiết 28 – Thực hành Tiếng Việt:

    ĐOẠN VĂN DIỄN
    DỊCH VÀ ĐOẠN
    VĂN QUY NẠP

    Hoạt động
    mở đầu

    Họat động mở đầu

    Hoàn thiện cột số
    2 trong PHT số
    1.

    Ngữ liệu
    (1)

    Câu văn bao quát Phân tích
    nội dung của đoạn
    (3)
    văn

    Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng  
    bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
    nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
    đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
    hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
    bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
    thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
    cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
    người không hút thuốc(4).
    Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất  
    nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
    thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
    trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
    kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
    cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
    vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
    hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
    Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
    cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).

    (2)

     

    Câu 1

     

    Câu 4

    Họat động mở đầu
    01

    02

    đoạn văn có câu văn bao quát nội
    dung đoạn văn nằm ở đầu đoạn là
    đoạn diễn dịch
    đoạn văn có câu văn bao quát nội
    dung đoạn văn nằm ở cuối gọi là
    đoạn quy nạp

    Hình thành
    kiến thức

    I

    Lý thuyết

    I. Lý thuyết
    Hs tìm hiểu, phân tích hai ví dụ
    trong SGK trang 64, từ đó rút ra
    đặc điểm và chức năng của
    đoạn văn diễn dịch và đoạn văn
    quy nạp.

    VÍ DỤ 1
    Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
    Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm
    hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
    cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư
    tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa
    nước nhà qua các thời kì lịch sử.
    (Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)

    + Câu chủ đề là câu in đậm được đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai
    nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay.
    + Các câu tiếp theo nói rõ cái đẹp và cái hay thể hiện cụ thể như
    thế
    nào. văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu
     Đoạn
    đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ
    chủ đề của đoạn văn.

    VÍ DỤ 2
    Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi,
    chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì
    dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với với văn hóa truyền
    thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối
    sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của
    cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao.
    (Nhiều tác giả, Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia – phần nghị luận
    xã hội)

    + Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa
    + Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn văn mới có cơ sở khẳng định sự
    khác biệt có ý nghĩa, đáng được để cao.
     Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ
    đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở
    cuối đoạn văn.

    I. Lý thuyết
    Chức năng của đoạn diễn dịch
    và quy nạp

    Là hai kiểu tổ chức đoạn
    văn khác nhau nhưng đều
    đáp ứng yêu cầu cơ bản
    của một đoạn văn: thể
    hiện rõ chủ đề

    Do có câu chủ đề,
    việc tiếp nhận nội
    dung đoạn văn trở
    nên thuận tiện hơn

    Hai kiểu đoạn
    văn này đặc biệt
    phù hợp với văn
    bản nghị luận

    I. Lý thuyết
    Hs tiếp tục hoàn thiện cột (3) PHT
    số 1 để củng cố về khái niệm đoạn
    văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp

    Ngữ liệu
    (1)

    Câu văn bao
    quát nội dung
    của đoạn văn (2)

    Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng  
    bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
    nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
    đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
    hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
    bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
    thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
    cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
    người không hút thuốc(4).
    Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất  
    nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
    thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
    trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
    kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
    cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
    vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
    hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
    Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
    cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).

    Phân tích
    (3)
     

    Câu 1

     

    Câu 4

    Câu chủ đề là câu số (1)đầu đoạn, khẳng định không
    phải người hút thuốc là
    người duy nhất bị ảnh
    hưởng bởi khói thuốc lá,
    những câu tiếp theo chỉ ra
    những đối tượng khác bị
    ảnh hưởng bởi khói thuốc lá
    3 câu đầu nêu lên lợi ích và
    tác hại của việc sử dụng
    điện thoại, từ đó, câu chủ
    đề là câu số (4) – cuối
    đoạn, mới có cơ sở khẳng
    định điện thoại thông minh
    vừa mang tới lợi ích nhưng
    cũng mang tới nhiều tác hại

    Hoạt động
    luyện tập

    1.

    Bài tập
    1

    Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
    xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
    Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
    đoạn văn.
    a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu
    thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che
    chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để
    báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho
    nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái
    Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh,
    một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo
    mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần
    nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả
    sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường
    tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu
    danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
    (Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)

    Câu chủ đề: Giả sử các bậc
    đó cứ khư khư ... trời đất
    muôn đời bất hủ được!
    → Đoạn văn quy nạp.
    Tác dụng của cách thức tổ
    chức đoạn văn:
    + Các câu đầu nêu những
    tấm gương về các bậc trung
    nghĩa.
    + Từ đó câu chủ đề ở cuối
    đoạn văn mới có cơ sở để
    nhắc nhở binh sĩ về chân lí

    Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
    xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
    Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
    đoạn văn.
    b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
    nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh
    Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường
    THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường
    THCS Đặng Thai Mai,… tất cả đều được nhận ra
    nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi
    “nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo”
    không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội
    hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ
    động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục
    của trường mình trên khán đài.
    (Dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai – Kết nối tri thức với
    cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 67)

    Câu chủ đề: Đồng phục không
    chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
    nên bản sắc của mỗi trường.
    → Đoạn văn diễn dịch
    Tác dụng của cách thức tổ
    chức đoạn văn:
    + Câu chủ đề được đặt ở đầu
    đoạn, khẳng định đồng phục
    không chỉ đẹp mà còn tạo nên
    bản sắc của mỗi trường
    + Các câu sau nói rõ nét đặc
    sắc của mỗi trường thông qua
    bộ đồng phục.

    2.

    Bài tập
    2

    Hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp lại
    thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào, em sắp xếp
    như vậy.
    (1) Một cô Tấm
    (2) Một Thạch Sanh (3) Ở hiền gặp
    (trong truyện “Tấm
    (truyện “Thạch Sanh”) lành, ác giả ác
    Cám”) bao lần bị
    chất phác, thật bụng tin báo là ước mơ
    hại, cuối cùng vẫn
    người, dẫu trải qua bao công
    bằng
    được làm hoàng hậu,
    khổ nạn, oan khuất rồi được
    nhân
    nhưng mụ dì ghẻ và
    đến lúc cũng cưới được dân gửi gắm
    Cám – những kẻ lắm
    công chúa và lên ngôi, vào truyện cổ
    mưu mô tàn ác thì bị
    còn Lý Thông lừa lọc, tích.
    trừng phạt đích
    xảo trá thì trời đất
    đáng.
    không dung tha.

    - Đoạn văn diễn dịch: (3) – (1) – (2) – (4)
    - Đoạn văn quy nạp: (1) – (2) – (4) – (3)

    (4) Một người em
    (truyện “Cây khế”)
    thật thà, hiền lành, bị
    anh đối xử bất công,
    ai ngờ cuộc sống về
    sau lại giàu sang
    hạnh phúc, trong khi
    người anh tham lam
    thì bỏ mạng giữa
    biển khơi.

    3.

    Bài tập
    3

    “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
    những vật tầm thường nhất” (I-li-a Êren-bua). Hãy xem đây là câu chủ đề,
    từ đó, viết hai đoạn văn, một đoạn văn
    đặt câu chủ đề ở đầu đoạn (diễn dịch)
    và đoạn văn đặt câu chủ dề ở cuối
    đoạn (quy nạp).

    Gợi ý tham khảo
    Đoạn văn
    diễn dịch
    Lòng yêu nước ban đầu là lòng
    yêu những vật tầm thường nhất.Yêu một
    chùm hoa dại không tên bên con đường
    quen thuộc là yêu nước. Yêu một lối nhỏ
    vắng vẻ ra bến sông quê hàng ngày là yêu
    nước. Yêu một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra
    che nắng giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu
    căn bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
    chiều cũng là yêu nước.

    Đoạn văn
    quy nạp
    Yêu một chùm hoa dại không tên
    bên con đường quen thuộc là yêu
    nước. Yêu một lối nhỏ vắng vẻ ra bến
    sông quê hàng ngày là yêu nước. Yêu
    một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra che nắng
    giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu căn
    bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
    chiều cũng là yêu nước. Như vậy, lòng
    yêu nước ban đầu là lòng yêu những
    vật tầm thường nhất.

    Hoạt động
    vận dụng

    Hoạt động vận dụng
    Viết một đoạn văn diễn dịch
    (khoảng 5 – 7 dòng) trình bày
    suy nghĩ của em về ảnh
    hưởng của hiện tượng nước
    biển dâng đối với đời sống con
    người. Chỉ ra câu chủ đề trong
    đoạn văn đó.

    Hoạt động vận dụng
    Nhiệm vụ

    Viết một đoạn văn quy
    nạp (khoảng 5 – 7
    dòng) trình bày suy nghĩ
    của em về tác hại của lũ
    lụt. Chỉ ra câu chủ đề
    trong đoạn văn đó.
     
    Gửi ý kiến