Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Quảng Ninh.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Ngữ văn 8

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Minh Thanh
Ngày gửi: 18h:11' 30-10-2023
Dung lượng: 4.7 MB
Số lượt tải: 495
Nguồn:
Người gửi: Minh Thanh
Ngày gửi: 18h:11' 30-10-2023
Dung lượng: 4.7 MB
Số lượt tải: 495
Số lượt thích:
0 người
Tiết 28 – Thực hành Tiếng Việt:
ĐOẠN VĂN DIỄN
DỊCH VÀ ĐOẠN
VĂN QUY NẠP
Hoạt động
mở đầu
Họat động mở đầu
Hoàn thiện cột số
2 trong PHT số
1.
Ngữ liệu
(1)
Câu văn bao quát Phân tích
nội dung của đoạn
(3)
văn
Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng
bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
người không hút thuốc(4).
Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất
nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).
(2)
Câu 1
Câu 4
Họat động mở đầu
01
02
đoạn văn có câu văn bao quát nội
dung đoạn văn nằm ở đầu đoạn là
đoạn diễn dịch
đoạn văn có câu văn bao quát nội
dung đoạn văn nằm ở cuối gọi là
đoạn quy nạp
Hình thành
kiến thức
I
Lý thuyết
I. Lý thuyết
Hs tìm hiểu, phân tích hai ví dụ
trong SGK trang 64, từ đó rút ra
đặc điểm và chức năng của
đoạn văn diễn dịch và đoạn văn
quy nạp.
VÍ DỤ 1
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm
hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư
tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa
nước nhà qua các thời kì lịch sử.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
+ Câu chủ đề là câu in đậm được đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai
nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay.
+ Các câu tiếp theo nói rõ cái đẹp và cái hay thể hiện cụ thể như
thế
nào. văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu
Đoạn
đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ
chủ đề của đoạn văn.
VÍ DỤ 2
Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi,
chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì
dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với với văn hóa truyền
thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối
sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của
cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao.
(Nhiều tác giả, Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia – phần nghị luận
xã hội)
+ Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa
+ Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn văn mới có cơ sở khẳng định sự
khác biệt có ý nghĩa, đáng được để cao.
Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ
đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở
cuối đoạn văn.
I. Lý thuyết
Chức năng của đoạn diễn dịch
và quy nạp
Là hai kiểu tổ chức đoạn
văn khác nhau nhưng đều
đáp ứng yêu cầu cơ bản
của một đoạn văn: thể
hiện rõ chủ đề
Do có câu chủ đề,
việc tiếp nhận nội
dung đoạn văn trở
nên thuận tiện hơn
Hai kiểu đoạn
văn này đặc biệt
phù hợp với văn
bản nghị luận
I. Lý thuyết
Hs tiếp tục hoàn thiện cột (3) PHT
số 1 để củng cố về khái niệm đoạn
văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp
Ngữ liệu
(1)
Câu văn bao
quát nội dung
của đoạn văn (2)
Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng
bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
người không hút thuốc(4).
Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất
nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).
Phân tích
(3)
Câu 1
Câu 4
Câu chủ đề là câu số (1)đầu đoạn, khẳng định không
phải người hút thuốc là
người duy nhất bị ảnh
hưởng bởi khói thuốc lá,
những câu tiếp theo chỉ ra
những đối tượng khác bị
ảnh hưởng bởi khói thuốc lá
3 câu đầu nêu lên lợi ích và
tác hại của việc sử dụng
điện thoại, từ đó, câu chủ
đề là câu số (4) – cuối
đoạn, mới có cơ sở khẳng
định điện thoại thông minh
vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại
Hoạt động
luyện tập
1.
Bài tập
1
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu
thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che
chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để
báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho
nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái
Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh,
một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo
mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần
nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả
sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường
tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu
danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
Câu chủ đề: Giả sử các bậc
đó cứ khư khư ... trời đất
muôn đời bất hủ được!
→ Đoạn văn quy nạp.
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Các câu đầu nêu những
tấm gương về các bậc trung
nghĩa.
+ Từ đó câu chủ đề ở cuối
đoạn văn mới có cơ sở để
nhắc nhở binh sĩ về chân lí
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh
Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường
THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường
THCS Đặng Thai Mai,… tất cả đều được nhận ra
nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi
“nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo”
không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội
hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ
động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục
của trường mình trên khán đài.
(Dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai – Kết nối tri thức với
cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 67)
Câu chủ đề: Đồng phục không
chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường.
→ Đoạn văn diễn dịch
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Câu chủ đề được đặt ở đầu
đoạn, khẳng định đồng phục
không chỉ đẹp mà còn tạo nên
bản sắc của mỗi trường
+ Các câu sau nói rõ nét đặc
sắc của mỗi trường thông qua
bộ đồng phục.
2.
Bài tập
2
Hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp lại
thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào, em sắp xếp
như vậy.
(1) Một cô Tấm
(2) Một Thạch Sanh (3) Ở hiền gặp
(trong truyện “Tấm
(truyện “Thạch Sanh”) lành, ác giả ác
Cám”) bao lần bị
chất phác, thật bụng tin báo là ước mơ
hại, cuối cùng vẫn
người, dẫu trải qua bao công
bằng
được làm hoàng hậu,
khổ nạn, oan khuất rồi được
nhân
nhưng mụ dì ghẻ và
đến lúc cũng cưới được dân gửi gắm
Cám – những kẻ lắm
công chúa và lên ngôi, vào truyện cổ
mưu mô tàn ác thì bị
còn Lý Thông lừa lọc, tích.
trừng phạt đích
xảo trá thì trời đất
đáng.
không dung tha.
- Đoạn văn diễn dịch: (3) – (1) – (2) – (4)
- Đoạn văn quy nạp: (1) – (2) – (4) – (3)
(4) Một người em
(truyện “Cây khế”)
thật thà, hiền lành, bị
anh đối xử bất công,
ai ngờ cuộc sống về
sau lại giàu sang
hạnh phúc, trong khi
người anh tham lam
thì bỏ mạng giữa
biển khơi.
3.
Bài tập
3
“Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất” (I-li-a Êren-bua). Hãy xem đây là câu chủ đề,
từ đó, viết hai đoạn văn, một đoạn văn
đặt câu chủ đề ở đầu đoạn (diễn dịch)
và đoạn văn đặt câu chủ dề ở cuối
đoạn (quy nạp).
Gợi ý tham khảo
Đoạn văn
diễn dịch
Lòng yêu nước ban đầu là lòng
yêu những vật tầm thường nhất.Yêu một
chùm hoa dại không tên bên con đường
quen thuộc là yêu nước. Yêu một lối nhỏ
vắng vẻ ra bến sông quê hàng ngày là yêu
nước. Yêu một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra
che nắng giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu
căn bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước.
Đoạn văn
quy nạp
Yêu một chùm hoa dại không tên
bên con đường quen thuộc là yêu
nước. Yêu một lối nhỏ vắng vẻ ra bến
sông quê hàng ngày là yêu nước. Yêu
một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra che nắng
giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu căn
bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước. Như vậy, lòng
yêu nước ban đầu là lòng yêu những
vật tầm thường nhất.
Hoạt động
vận dụng
Hoạt động vận dụng
Viết một đoạn văn diễn dịch
(khoảng 5 – 7 dòng) trình bày
suy nghĩ của em về ảnh
hưởng của hiện tượng nước
biển dâng đối với đời sống con
người. Chỉ ra câu chủ đề trong
đoạn văn đó.
Hoạt động vận dụng
Nhiệm vụ
Viết một đoạn văn quy
nạp (khoảng 5 – 7
dòng) trình bày suy nghĩ
của em về tác hại của lũ
lụt. Chỉ ra câu chủ đề
trong đoạn văn đó.
ĐOẠN VĂN DIỄN
DỊCH VÀ ĐOẠN
VĂN QUY NẠP
Hoạt động
mở đầu
Họat động mở đầu
Hoàn thiện cột số
2 trong PHT số
1.
Ngữ liệu
(1)
Câu văn bao quát Phân tích
nội dung của đoạn
(3)
văn
Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng
bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
người không hút thuốc(4).
Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất
nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).
(2)
Câu 1
Câu 4
Họat động mở đầu
01
02
đoạn văn có câu văn bao quát nội
dung đoạn văn nằm ở đầu đoạn là
đoạn diễn dịch
đoạn văn có câu văn bao quát nội
dung đoạn văn nằm ở cuối gọi là
đoạn quy nạp
Hình thành
kiến thức
I
Lý thuyết
I. Lý thuyết
Hs tìm hiểu, phân tích hai ví dụ
trong SGK trang 64, từ đó rút ra
đặc điểm và chức năng của
đoạn văn diễn dịch và đoạn văn
quy nạp.
VÍ DỤ 1
Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.
Nói thế có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt là một thứ tiếng hài hòa về mặt âm
hưởng, thanh điệu mà cũng rất tế nhị, uyển chuyển trong cách đặt câu. Nói thế
cũng có nghĩa là nói rằng: tiếng Việt có đầy đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tư
tưởng của người Việt Nam và để thỏa mãn cho yêu cầu của đời sống văn hóa
nước nhà qua các thời kì lịch sử.
(Đặng Thai Mai, Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc)
+ Câu chủ đề là câu in đậm được đặt ở đầu đoạn, khẳng định hai
nét đặc sắc của tiếng Việt là đẹp và hay.
+ Các câu tiếp theo nói rõ cái đẹp và cái hay thể hiện cụ thể như
thế
nào. văn diễn dịch: Đoạn văn có câu chủ đề được đặt ở đầu
Đoạn
đoạn, những câu tiếp triển khai các nội dung cụ thể để làm rõ
chủ đề của đoạn văn.
VÍ DỤ 2
Đề cao sự khác biệt không phải là cổ động cho lối sống cá nhân ích kỉ, hẹp hòi,
chối bỏ mọi trách nhiệm. Đề cao sự khác biệt không có nghĩa chấp nhận những sự kì
dị, quái đản cốt làm cho cá nhân nổi bật giữa đám đông, xa lạ với với văn hóa truyền
thống của dân tộc. Đề cao sự khác biệt cũng không đồng nghĩa với việc tán thành lối
sống tự do vô mục đích. Xét cho cùng, chỉ sự khác biệt nào toát lên được giá trị của
cá nhân và có ích cho cộng đồng thì mới thực sự có ý nghĩa, đáng được đề cao.
(Nhiều tác giả, Để làm tốt bài thi môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia – phần nghị luận
xã hội)
+ Ba câu đầu nêu những biểu hiện của sự khác biệt tầm thường, vô nghĩa
+ Từ đó, câu chủ đề (in đậm) ở cuối đoạn văn mới có cơ sở khẳng định sự
khác biệt có ý nghĩa, đáng được để cao.
Đoạn văn quy nạp: Đoạn văn triển khai nội dung cụ thể trước, từ
đó mới khái quát nội dung chung, được thể hiện bằng câu chủ đề ở
cuối đoạn văn.
I. Lý thuyết
Chức năng của đoạn diễn dịch
và quy nạp
Là hai kiểu tổ chức đoạn
văn khác nhau nhưng đều
đáp ứng yêu cầu cơ bản
của một đoạn văn: thể
hiện rõ chủ đề
Do có câu chủ đề,
việc tiếp nhận nội
dung đoạn văn trở
nên thuận tiện hơn
Hai kiểu đoạn
văn này đặc biệt
phù hợp với văn
bản nghị luận
I. Lý thuyết
Hs tiếp tục hoàn thiện cột (3) PHT
số 1 để củng cố về khái niệm đoạn
văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp
Ngữ liệu
(1)
Câu văn bao
quát nội dung
của đoạn văn (2)
Người hút thuốc không phải là người duy nhất bị ảnh hưởng
bởi khói thuốc lá (1). Khói và hơi thuốc lá là mối nguy hiểm
nghiêm trọng đối với sức khỏe của người không hút thuốc,
đặc biệt là trẻ em (2). Người không hút thuốc bị cao huyết áp
hoặc cholesterol trong máu cao thậm chí có nguy cơ mắc
bệnh tim cao hơn khi hít khói thuốc lá(3). Hút thuốc thụ động
thúc đẩy bệnh tật. Trẻ em sinh ra từ người hút thuốc có nguy
cơ nhiễm trùng đường hô hấp cao hơn trẻ em sinh ra từ
người không hút thuốc(4).
Những chiếc điện thoại thông minh giúp ích cho chúng ta rất
nhiều trong cuộc sốns(1). Chúng không chỉ giúp chúng ta có
thể liên lạc với nhau ở khoảng cách xa xôi, kết nối thông tin
trên toàn thế giới mà còn giúp chúng ta tiếp cận với những
kiến thức của toàn nhân loại (2). Thế nhưng, nó cũng đem lại
cho chúng ta rất nhiều phiền toái như sự trói buộc, lệ thuộc
vào điện thoại, những hệ lụy cho con trẻ như nghiện game
hay internet, các thông tin đồi trụy, chưa được kiểm duyệt(3).
Có thể nói, điện thoại thông minh vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại cho con người(4).
Phân tích
(3)
Câu 1
Câu 4
Câu chủ đề là câu số (1)đầu đoạn, khẳng định không
phải người hút thuốc là
người duy nhất bị ảnh
hưởng bởi khói thuốc lá,
những câu tiếp theo chỉ ra
những đối tượng khác bị
ảnh hưởng bởi khói thuốc lá
3 câu đầu nêu lên lợi ích và
tác hại của việc sử dụng
điện thoại, từ đó, câu chủ
đề là câu số (4) – cuối
đoạn, mới có cơ sở khẳng
định điện thoại thông minh
vừa mang tới lợi ích nhưng
cũng mang tới nhiều tác hại
Hoạt động
luyện tập
1.
Bài tập
1
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
a. Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình chết thay, cứu
thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che
chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để
báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay cứu nạn cho
nước; Kính Đức, một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái
Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh,
một bề tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo
mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần
nghĩa sĩ bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả
sử các bậc đó cứ khư khư theo thói nữ nhi thường
tình, thì cũng chết già ở xó cửa, sao có thể lưu
danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được!
(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
Câu chủ đề: Giả sử các bậc
đó cứ khư khư ... trời đất
muôn đời bất hủ được!
→ Đoạn văn quy nạp.
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Các câu đầu nêu những
tấm gương về các bậc trung
nghĩa.
+ Từ đó câu chủ đề ở cuối
đoạn văn mới có cơ sở để
nhắc nhở binh sĩ về chân lí
Tìm câu chủ đề trong các đoạn văn sau, từ đó,
xác định kiểu đoạn văn (diễn dịch, quy nạp).
Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức
đoạn văn.
b. Đồng phục không chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường. Cậu này là học sinh
Trường THCS Lê Quý Đôn, bạn ấy thuộc Trường
THCS Lương Thế Vinh, còn cô bé kia học ở Trường
THCS Đặng Thai Mai,… tất cả đều được nhận ra
nhờ bộ đồng phục mà họ mặc. Trong cuộc thi
“nhóm bạn lí tưởng” ở huyện, “màu cờ sắc áo”
không chỉ thể hiện ở tài trí của năm bạn trong đội
hình thi đấu trên sân khấu, mà còn ở các nhóm cổ
động viên tưng bừng, nổi bật trong bộ đồng phục
của trường mình trên khán đài.
(Dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai – Kết nối tri thức với
cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2021, tr. 67)
Câu chủ đề: Đồng phục không
chỉ đẹp mà còn góp phần tạo
nên bản sắc của mỗi trường.
→ Đoạn văn diễn dịch
Tác dụng của cách thức tổ
chức đoạn văn:
+ Câu chủ đề được đặt ở đầu
đoạn, khẳng định đồng phục
không chỉ đẹp mà còn tạo nên
bản sắc của mỗi trường
+ Các câu sau nói rõ nét đặc
sắc của mỗi trường thông qua
bộ đồng phục.
2.
Bài tập
2
Hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn diễn dịch, sau đó sắp xếp lại
thành đoạn văn quy nạp và cho biết dựa vào cơ sở nào, em sắp xếp
như vậy.
(1) Một cô Tấm
(2) Một Thạch Sanh (3) Ở hiền gặp
(trong truyện “Tấm
(truyện “Thạch Sanh”) lành, ác giả ác
Cám”) bao lần bị
chất phác, thật bụng tin báo là ước mơ
hại, cuối cùng vẫn
người, dẫu trải qua bao công
bằng
được làm hoàng hậu,
khổ nạn, oan khuất rồi được
nhân
nhưng mụ dì ghẻ và
đến lúc cũng cưới được dân gửi gắm
Cám – những kẻ lắm
công chúa và lên ngôi, vào truyện cổ
mưu mô tàn ác thì bị
còn Lý Thông lừa lọc, tích.
trừng phạt đích
xảo trá thì trời đất
đáng.
không dung tha.
- Đoạn văn diễn dịch: (3) – (1) – (2) – (4)
- Đoạn văn quy nạp: (1) – (2) – (4) – (3)
(4) Một người em
(truyện “Cây khế”)
thật thà, hiền lành, bị
anh đối xử bất công,
ai ngờ cuộc sống về
sau lại giàu sang
hạnh phúc, trong khi
người anh tham lam
thì bỏ mạng giữa
biển khơi.
3.
Bài tập
3
“Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu
những vật tầm thường nhất” (I-li-a Êren-bua). Hãy xem đây là câu chủ đề,
từ đó, viết hai đoạn văn, một đoạn văn
đặt câu chủ đề ở đầu đoạn (diễn dịch)
và đoạn văn đặt câu chủ dề ở cuối
đoạn (quy nạp).
Gợi ý tham khảo
Đoạn văn
diễn dịch
Lòng yêu nước ban đầu là lòng
yêu những vật tầm thường nhất.Yêu một
chùm hoa dại không tên bên con đường
quen thuộc là yêu nước. Yêu một lối nhỏ
vắng vẻ ra bến sông quê hàng ngày là yêu
nước. Yêu một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra
che nắng giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu
căn bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước.
Đoạn văn
quy nạp
Yêu một chùm hoa dại không tên
bên con đường quen thuộc là yêu
nước. Yêu một lối nhỏ vắng vẻ ra bến
sông quê hàng ngày là yêu nước. Yêu
một tán lá cọ lặng lẽ xòe ra che nắng
giữa vườn trưa là yêu nước. Yêu căn
bếp nhỏ lặng lẽ tỏa khói mỗi sớm
chiều cũng là yêu nước. Như vậy, lòng
yêu nước ban đầu là lòng yêu những
vật tầm thường nhất.
Hoạt động
vận dụng
Hoạt động vận dụng
Viết một đoạn văn diễn dịch
(khoảng 5 – 7 dòng) trình bày
suy nghĩ của em về ảnh
hưởng của hiện tượng nước
biển dâng đối với đời sống con
người. Chỉ ra câu chủ đề trong
đoạn văn đó.
Hoạt động vận dụng
Nhiệm vụ
Viết một đoạn văn quy
nạp (khoảng 5 – 7
dòng) trình bày suy nghĩ
của em về tác hại của lũ
lụt. Chỉ ra câu chủ đề
trong đoạn văn đó.
 






Các ý kiến mới nhất